Thuê văn phòng luật sư uy tín tại Hà Nội – 1900 599 979

1
2



Rất nhiều tiệm cầm đồ chấp nhận cầm cố cả những tài sản không có nguồn gốc, thiếu giấy tờ xác minh như xe máy, hay cả ô tô chỉ có giấy tờ xe phô tô công chứng Vậy trong những trường hợp như vậy liệu pháp luật có đảm bảo cho những giao dịch trên không?
Cơ sở pháp lý:
– Bộ Luật dân sự năm 2015;
– Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bao lực gia đình;
– Điều 323 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Giao dịch cầm đồ hay còn gọi là Cầm cố tài sản là một loại hình giao dịch dân sự hợp pháp được quy định tại điều 309 Bộ luật dân sự hiện hành. Theo đó Cầm cố tài sản chính là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ,
Nói một cách dễ hiểu hơn tức là khi anh vay của tôi tiền thì anh phải giao cho tôi một khối tài sản có giá trị tương đương hoặc lớn hơn khoản vay để bảo đảm cho khoản vay của anh.
Từ khái niệm trên có thể hiểu rằng, chỉ có người là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền hợp pháp thì họ mới được quyền cầm cố, thế chấp tài sản.
Ngược nếu không thể chứng minh được có nghĩa là một giao dịch trái pháp luật và là một giao dịch dân sự vô hiệu. Và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trên được xử lý theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015.
Khi đó, các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, người nhận cầm cố phải trả tài sản cho chủ sở hữu, người cầm cố sẽ phải trả lại tiền cho người nhận cầm cố mà không phải thanh toán bất kỳ phần lãi phát sinh nào.
2. Thực tế thời gian vừa qua chúng ta chỉ xử lý được những đối tượng phạm tội trộm cắp còn những chủ cầm đồ các tài sản phi pháp thì chưa xử lý được ai, vậy pháp luật quy định như thế nào về trường hợp này?
Đối với câu hỏi trên có 2 trường hợp có thể xảy ra:
Trường hợp 1: Chủ tiệm cầm đồ không biết đây là tài sản trộm cắp mà có.
Trong trường hợp này, chủ tiệm cầm đồ sẽ chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, cụ thể mức phạt sẽ giao động từ 2.000.000đ đến 5.000.000đ.
Trường hợp 2: chủ tiệm biết rõ tài sản cầm cố là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội danh Chứa cháp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội. Tùy vào tính chất phạm tội mà khung hình phạt cao nhất lên tới 15 năm tù.
3. Lý do các tiệm cầm đồ chấp nhận rủi ro để cầm cố các tài sản không có nhiều tính pháp lý theo ông là gì?
Tôi cho rằng các tiệm cầm đồ chấp nhận rủi ro để cầm cố tài sản không đảm bảo tính pháp lý là do 2 nguyên nhân chính:
Thứ nhất, là do lợi nhuận: Dịch vụ cầm đồ có thể nói là một dịch vụ mang lại lợi nhuận rất lớn bởi lãi xuất cầm đồ thường rất cao, thường từ 5 -7%/tháng tương ứng với 90% năm, vượt xa lãi xuất của ngân hàng, do vậy các cửa hàng kinh doanh cầm đồ có thể vì lợi ích trước mắt mà bất chấp những rủi ro pháp lý có thể xảy ra.
Thứ 2: Do chế tài và hình phạt chưa nghiêm khắc.
Trong trường hợp chủ tiệm cầm đồ bị cơ quan chức năng phát hiện việc cầm cố tài sản không đủ tính pháp lý. Nếu không chứng minh được họ vi phạm hình sự thì họ cũng chỉ bị xử lý hành chính với mức phạt cao nhất đến 5 triệu đồng. Đây là một mức phạt quá nhẹ so với lợi nhuận từ hoạt động cầm đồ đem lại. Các chủ tiệm cầm đồ mặc dù biết hậu quả của việc thế chấp tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng họ vẫn làm vì chế tài của pháp luật còn quá nhẹ, chưa đủ tính răn đe.
4. Để quản lý tốt các tiệm cầm đồ, tránh gây mất ANTT về mặt pháp luật liệu chúng ta có nên bổ sung thêm quy định gì?
Theo tôi cần phải nâng cao mức xử phạt hành chính đối với hành vi cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác được quy định tại Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP nêu trên. Bởi lẽ, mức xử phạt từ 2-5 triệu đồng là quá nhẹ so với nguồn lợi thu được từ việc cầm cố tài sản trên.
Mặt khác, theo quy định Điều 323 BLHS, để xác định được hành vi “chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” là không hề đơn giản. Vì họ có biết thì họ chắc chắn cũng sẽ không khai là mình biết. Do đó, luật quy định là như vậy nhưng thực tế để xử lý được chủ tiệm cầm đồ có dấu hiệu của tội trên là rất khó. Vì vậy cần phải quy định chặt chẽ hơn nữa về dấu hiệu của tôi danh này.
Ngoài ra cần phải hình sự hóa những trường hợp cầm đồ không tuân thủ đầy đủ về mặt giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Ví dụ như sau khi đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn tái phạm thì có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. Nếu bổ sung được điều này vào luật. Tôi tin rằng việc quản lý hoạt động cầm đồ sẽ diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều.
Công ty Luật Dragon
Thạc sỹ Luật sư Nguyễn Đức Năng
www.vanphongluatsu.com.vn / www.congtyluatdragon.com

Nguồn: https://partnersinsublime.com/

Xem thêm bài viết khác: https://partnersinsublime.com/phap-luat/

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here